Tin Y Học

Suy thận mạn và một số dấu hiệu nguy hiểm

Bệnh suy thận mạn
Written by Ngoc Nguyen

Suy thận mạn thường xảy ra bất ngờ và tăng sự phát triển dần dần. Bệnh tiến triển chậm & thường ko bắt gặp biến chứng cho đến lúc đã ở tình trạng nguy hiểm gây hại cho bệnh nhân.

Suy thận mạn là gì?

Suy thận là việc giảm mức lọc cầu thận dưới mức thông thường. Suy thận đc gọi là mạn tính (suy thận mạn) lúc mức lọc cầu thận giảm liên tục, thắt chặt và cố định, có ảnh hưởng liên quan đến sự giảm về số lượng nephron tính năng.

Suy thận mạn là 1 biểu hiện lâm sàng & sinh hóa tiến triển mãn tính qua lâu năm tháng, hậu quả của sự thoái hóa các nephron chức năng gây giảm sút từ từ mức lọc cầu thận dẫn theo tình hình tăng nito phi protein máu như urê, creatinin máu, acid uric,…

Bệnh tiến triển chậm và thường không bắt gặp biến chứng cho tới lúc đã ở tình hình nguy hiểm gây hại cho người bệnh.

Suy thận mạn

Suy thận mạn

nguyên do dẫn theo tình trạng suy thận mạn

Các nguyên nhân phổ cập nhất gây bệnh suy thận như:

một số trong những loại thuốc dùng để chữa trị các rối loạn bệnh lí cũng có thể có thể làm tổn thương thận, kéo theo suy thận mạn.
viêm nhiễm, nhiễm trùng đường niệu, suy tim sung huyết, tiểu đường & huyết áp cao cũng có thể gây ra bệnh.
bất kì trường hợp nào làm giảm lượng máu bổ sung cho thận, làm tắc nghẽn nước tiểu sau khi rời khỏi thận hoặc làm chấn thương nhẹ thận đều có thể là lý do gây ra bệnh.

các cấp độ của nhóm bệnh thận mạn

Mức lọc cầu thận – chỉ số đánh giá tính năng lọc chất cặn bã của thận đc sử dụng để phân loại các giai đoạn của loại bệnh thận mạn. Hiệp hội cộng đồng Thận vương quốc Hoa Kỳ định nghĩa suy thận mạn xảy ra lúc hoặc có chấn thương nhẹ thận định vị bởi hàm lượng lưu lại trong nước tiểu hoặc quan sát thấy máu, có thể có hoặc có thể không có sự thay đổi mức lọc cầu thận; hoặc có mức lọc cầu thận giảm bên dưới 60 ml/phút/1,73 m2 trong ít nhất ba tháng. Bảng 1 diễn tả tiêu chuẩn phân loại các mức độ của nhóm bệnh thận mạn theo chỉ dẫn của tổ chức Kidney Disease Outcomes unique Initiative (K/DOQI).

điều trị suy thận mạn

Lọc máu

lúc khám chữa bảo tồn mà không thể kết quả, phải chỉ định lọc máu bằng chạy thận nhân tạo hoặc lọc màng bụng, và ghép thận. Những không dùng lọc máu như sau:

Có hiện tượng urê huyết cao như viêm màng ngoài tim, bệnh não hoặc rối loạn máu đông.

Quá tải dịch ko phục vụ với thuốc lợi niệu.

Tăng kali máu khó điều chỉnh.

Toàn máu nặng (pH < 7,2)

Có triệu chứng về thần kinh trung ương như co giật, viêm thần kinh trung ương ngoại biên. Thường không sử dụng lọc máu khi nồng độ creatinin máu vượt quá 100 mg/L (hoặc nitơ urê máu (BUN) vượt qụá 1 g/L). Nếu là suy thận do đái tháo đường, cần chống chỉ định lọc máu sớm hơn.

Việc cố gắng chuẩn bị cho lọc máu cần phải có quan điểm làm việc trong một nhóm những thầy thuốc hợp tác với nhau, bao gồm: các nhà tiết chế, nhà xã hội học, nhà tâm thần học, thầy thuốc ngoại khoa ghép thận, và đương nhiên là những Bác Sỹ điều trị cùng những nhà thận học. Nên giải thích rõ cho những người mắc bệnh & mái ấm gia đình về các điều lợi và hại của việc lọc máu, để họ có khả năng tự chọn quyết định lọc hay là không.

Thận nhân tạo:

Lọc máu bằng chạy thận nhân tạo yên cầu cần có luồng máu liên tục đến một bên màng lọc, còn bên kia cần phải có dịch lọc đến màng lọc để 1 mặt loại bỏ được lượng chất độc & còn mặt khác có khả năng bổ xung đc hàm lượng quan trọng. Thường nên một cầu nối mạch máu bằng cách nối động – tĩnh mạch hoặc đặt 1 ống chất dẻo nôi liền động – tĩnh mạch. Thường thì cầu nốỉ động tĩnh mạch máu dùng được vĩnh viễn ống dẫn chất dẻo, nhưng cần phải lập ra 6 – 8 tuần trước khi lọc. Không chỉ có vậy, khi dùng ống chất dẻo cũng hay gặp nhiễm khuẩn, khối đông và phình mạch hơn làm cầu nối. Tụ cầu vàng là những con vi sinh vật tạo nên bệnh rất hay gặp nhất.

thường thì cần chạy 3 lần một tuần, khoảng thời gian chạy mỗi lần là 3 – 4 giờ, tùy thuộc size cơ thể, loại quả lọc & những nhân tố khác. Việc lọc máu tận nhà Ngày nay không hề phổ biến như lúc trước phía trên nữa, vì người ta thấy tốn kém hơn do nên đào tạo một đội nhóm ngũ kỹ thuật viên lớn, cũng tương tự những trang thiết bị khác.

Lọc máu màng bụng:

lúc lọc máu màng bụng, thì màng bụng chính là quả lọc. Dịch & lượng chất hòa tan di chuyển hẳn sang những nền mao mạch nằm giữa những lớp của phúc mạc để vào trong dịch lọc. Dịch lọc đc đưa vào ổ bụng sang 1 ống dẫn thông (catheter). Cách hay dùng nhất là lọc máu màng bụng liên tù tì ngoại trú. Những người mắc bệnh tự đưa dịch vào và tháo dịch ra 4 – 5 lần hàng ngày. Giữa hai lần truyền và tháo dịch, dịch lọc ở phía trong ổ bụng để có khả năng thảo luận lượng chất.

Từ hơn 10 trong năm này, số quý khách lọc máu màng bụng kha khá ổn định. Những người có bệnh dùng phương pháp lọc này hoạt động và sinh hoạt độc lập hơn. Chính sách lọc bỗng nhiên và từ từ cũng tránh đc các xung động dần lớn bắt gặp trong chạy thận nhân tạo. Hàm lượng khó qua màng lọc thận nhân tạo như phosphat cũng được lọc tốt hơn, cần bệnh nhân ít cần kiêng khem hơn.

phiền toái dần lớn nhất của chiêu bài đó là viêm phúc mạc, với tỷ lệ là 0,8 lần cho mỗi những người có bệnh mỗi năm lọc. Dịch lọc có khả năng đục, và có > 100 bạch cầu/ mm3 & nên là trên một nửa bạch cầu đa nhân trung tính. Tụ cầu vàng là vi khuẩn tạo nên bệnh hay gặp nhất.

giá thành của lọc máu màng bụng & chạy thận nhân tạo ngang nhau vì tuy lọc màng bụng ít tốn kém, nhưng chữa bệnh viêm phúc mạc lại tốn kém nhiều.

xác suất sống sau 5 năm, theo Kaplan – Meier là từ 18% ở bệnh nhân đái tháo đường đến 40% ở những người có bệnh viêm cầu thận. Con số chung Hiện giờ là 30% sống sau 5 năm. Nói tóm gọn, những người đc lọc máu thường sống thêm được 3 – 4 năm; nhưng phụ thuộc vào bệnh chính, và có nhiều người đã sống đc 25 năm.

Ghép thận:

Từ 1/3 đến 1/2 số những người có bệnh suy thận giai đoạn cuối là có thể tương thích để ghép thận. 2/3 Thận ghép là lấy từ người chết, còn sót lại 1/3 là do người trong gia đình cho. Các thuốc tức chế miễn dịch hay được dùng là corticoid, arathioprin và cyclosporin. Những người được ghép thận lấy từ người chết thường phải liều những thuốc ức chế miễn dịch cao hơn và kéo dài trong suốt thời gian hơn người ghép thận của người sống, Cống hiến và làm việc cho. Song, việc này phụ thuộc cơ bản vào mức độ hòa hợp của nhân tố hòa hợp tổ chức. Xác Suất sống sau 2 năm ghép thận là 90% đối với người ghép thận người sống và 78% ở người ghép thận người chết. Ngoài việc cần dùng thuốc ức chế miễn dịch, cuộc sống thường ngày người ghép thận gần như bình thường.

Suy thận mạn tính có nguy hiểm đến tính mạng không ?

Mỗi người thông thường có 2 quả thận, có hình giống hạt đậu với các chỉ số như: dài 12 cm, rộng 6 cm, nặng khoảng 150g. Thận là cơ quan tiết niệu rất đặc trưng giúp lọc máu, cân bằng và điều độ nội môi, điều hòa áp suất thẩm thấu & những chuyển hóa trong cơ thể, là cửa ngõ đào thảo chất độc trong cơ thể. Nếu thiếu một quả thận, quả còn sót lại vẫn chắc chắn tiến hành được chức năng của mình, nhưng nếu cả hai cùng có vấn đề sẽ là các tác động rất chi là dần lớn, thậm chí là mối đe dọa đến sự sống.

Xem thêm: http://chuabenhthan.info/gian-dai-be-than-o-tre-em-va-nguyen-nhan-cach-dieu-tri/

About the author

Ngoc Nguyen

Leave a Comment